Tieng VietEnglish
| CHI TIẾT CHƯƠNG TRÌNH | CÁC HOẠT ĐỘNG | TIẾN ĐỘ CẬP NHẬT | LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KT-XH |



 

 

 

1. Cập nhật tiến độ RUDEP

Lập Kế hoạch KT-XH

          RUDEP bắt đầu triển khai thử nghiệm một chương trình về lập kế hoạch có sự tham gia của người dân vào năm 2002 và thí điểm quy trình này tại các xã Chương trình. Trong quá trình thực hiện cách tiếp cận này thường xuyên được điều chỉnh và sau này được gọi là Quy trình lập kế hoạch phát triển xã để nhất quán với tên gọi của cách tiếp cận tương tự triển khai tại tỉnh Sơn La. Qua quá trình thử nghiệm và bổ sung, điều chỉnh, năm 2007 Quy trình đã được UBND tỉnh Quảng Ngãi chấp nhận và ra quyết định sử dụng làm quy trình lập kế hoạch chính thức áp dụng trên toàn 186 xã, phường, thị trấn thuộc 14 huyện, thành phố thuộc tỉnh.

          Quy trình đã được đổi tên thành Quy trình lập kế hoạch kinh tế xã hội để phù hợp với cách gọi tên thông thường. Quy trình được Sở KH-ĐT chủ trì triển khai thực hiện cùng với các huyện với một phần kinh phí hỗ trợ từ RUDEP. RUDEP xem quy trình này là một phần thiết yếu của quá trình trao quyền giúp người dân nông thôn chủ động trong xoá đói giảm nghèo. Người dân có thể tác động vào các hoạt động sẽ thực hiện tại địa phương mình và nhận thức được những nguồn lực ngân sách sẵn có và mục đích của những nguồn ngân sách này. Quy trình nhằm nâng cao tính minh bạch và phát huy tính khả quy trách nhiệm của cán bộ địa phương đối với người dân.

Tiết kiệm và Tín dụng

          RUDEP khởi đầu chương trình quỹ tiết kiệm và tín dụng vào năm 2002 do tại thời điểm này nông hộ nghèo còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay và, đặc biệt tại các cuộc họp cộng đồng, việc tiếp cận vốn tín dụng được người dân xem là nhu cầu bức thiết.

          RUDEP xây dựng quy chế vận hành quỹ và hỗ trợ người dân lập thành các nhóm quỹ tiết kiệm và tín dụng, và tập huấn cho các nhóm thành lập quỹ về các quy trình, thủ tục, quản lý, hạch toán và cách lập kế hoạch sản xuất để vay vốn. Số thành viên mỗi quỹ yêu cầu phải có ít nhất 50% phụ nữ và 50% là hộ nghèo. Các quỹ được hướng dẫn bầu chọn ban quản lý quỹ cho nhóm và mở tài khoản để ký thác vốn đầu tư hoạt động quỹ. Theo quy chế vận hành, nếu quỹ nào chứng tỏ hoạt động hiệu quả sau hai năm, các thành viên trong quỹ sẽ trở thành chủ sở hữu toàn bộ số vốn trong quỹ. RUDEP hợp đồng các đơn vị hội phụ nữ huyện và xã cùng tham dự các cuộc họp tháng tại các quỹ để hỗ trợ và dẫn dắt các thành viên trong hoạt động và quản lý quỹ. Hằng năm, các quỹ được hỗ trợ một khoản kinh phí để xây dựng và thực hiện kế hoạch các hoạt động tạo thu nhập. Cách tiếp cận này xuất phát trên quan điểm rằng chỉ riêng tín dụng không thôi thì chưa đủ để nâng cao thu nhập, và người dân cần được tập huấn kỹ thuật để cải thiện hoặc đa dạng hoá các hoạt động canh tác, sản xuất.

          Tại các xã miền núi, RUDEP tiến hành chương trình xây dựng kỹ năng cho một số đối tượng chọn lựa tại các quỹ để số người này đóng vai trò như tập huấn viên tập huấn lại các kỹ năng đọc đếm cho các thành viên khác trong quỹ của mình. Vấn đề đọc, đếm là trở lực lớn đối với việc vận hành thành công của các quỹ tiết kiệm và tín dụng, đồng thời cũng hạn chế khả năng người dân vươn ra tương tác với bên ngoài để tiếp cận thị trường cũng như tìm kiếm thông tin tư vấn nông nghiệp. Vì vậy, tập huấn về đọc đếm không chỉ giúp người dân các kỹ năng cơ bản để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn giúp họ tự tin trong các hoạt động và công việc.

          Tuy nhiên, chương trình quỹ tiết kiệm và tín dụng sau này đã được quyết định ngừng mở rộng kể từ năm 2007 do chưa có những quy định chắc chắn trong quá trình dự thảo Nghị định 28 (về sắp xếp lại các tổ chức tài chính quy mô nhỏ), bên cạnh đó mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội cũng đã ngày càng gia tăng tại các địa bàn.

Bảng 1: Tình hình Quỹ tiết kiệm và tín dụng qua các năm

Thông số

Tháng/ năm

 

06/2004

06/2005

06/2006

07/2007

Tổng số quỹ

44

96

169

166

Tổng số thành viên

1,044

2,321

4,111

4,012

% phụ nữ

66%

72%

74%

75%

Tổng vốn giống (tỉ đồng)

2.4

7.0

12.7

12.5

Tỉ lệ nợ quá hạn (%)

1.8%

0.8%

1.6%

2.5%

Tổng số dư tiết kiệm (triệu đồng)

140

491

868

1,231

          Các quỹ tiết kiệm và tín dụng hoạt động đã rất thành công song cũng đòi hỏi mức độ theo dõi và hỗ trợ rất cao ở các địa bàn miền núi so với các địa bàn vùng đồng bằng. Trong khi toàn bộ số quỹ tại đồng bằng đều được công nhận tốt nghiệp nhờ hoạt động hiệu quả, số quỹ tốt nghiệp tại miền núi chỉ đạt 69%. Những quỹ còn lại phải đóng cửa do những vấn đề tồn tại trong thời gian dài về nợ quá hạn, mức độ tham dự họp quỹ yếu, ban quản lý quỹ sự dụng vốn sai mục đích, v.v.

Kinh phí phát triển xã

          RUDEP sử dụng cơ chế Kinh phí phát triển xã (CDF) để tài trợ các hoạt động kinh tế, xã hội và cơ sở hạ tầng tại các xã Chương trình. Sau khi tiến hành hoàn tất quy trình lập kế hoạch có sự tham gia, các xã trình kế hoạch lên RUDEP kèm theo phương án phân bổ cụ thể các nguồn Kinh phí phát triển xã. Các kế hoạch này được phê duyệt và kinh phí được giải ngân hàng quý vào tài khoản do UBND các xã mở tại Ngân hàng NN-PTNT (đối với các hoạt động kinh tế, xã hội) và tại Kho bạc nhà nước (đối với các hoạt động cơ sở hạ tầng). 

          RUDEP bắt đầu sử dụng cơ chế CDF để phân cấp trách nhiệm hơn nữa về các xã đối với các hoạt động đang được triển khai tại xã. Theo cơ chế này UBND xã giữ vai trò chủ đầu tư và cơ chế đã được đưa vào thực hiện được hai năm. RUDEP đồng thời cung cấp và tiếp tục tập huấn cho cán bộ UBND các xã nhằm tạo điều kiện giúp họ đủ năng lực thực thi vai trò chủ đầu tư của mình.

Tập huấn khuyến nông

          Các đơn vị khuyến nông cấp tỉnh và cấp huyện đã được hợp đồng để tham gia tổ chức tập huấn và làm mô hình trình diễn nông nghiệp với các nhóm nông hộ. Ban đầu Ban quản lý đứng ra ký kết hợp đồng thực hiện, sau này với cơ chế Kinh phí phát triển xã, UBND các xã đảm nhiệm ký kết hợp đồng với các đơn vị khuyến nông.

 

           Một điều tra, phân tích về nhu cầu đào tạo tập huấn của cán bộ khuyến nông đã được thực hiện vào năm 2004 và kết quả của đợt điều tra này đã được dùng làm cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo, tập huấn khuyến nông triển khai vào năm 2005, chủ yếu nhằm vào trang bị các kiến thức chuyên môn. Bước sang 2006 RUDEP bắt đầu thực hiện tiếp chương trình đào tạo, tập huấn dựa vào Phương pháp khuyến nông có sự tham gia (PAEM) để thúc đẩy cán bộ khuyến nông ứng dụng các kỹ thuật này vào việc thực hiện các hợp đồng theo kinh phí CDF cũng như hợp đồng thực hiện các giải pháp đổi mới sản xuất tại các xã, chẳng hạn, giới thiệu, phổ cập cho nông hộ những kỹ thuật và sản phẩm mới không nằm trong các kế hoạch hàng năm của cộng đồng do nông hộ chưa biết đến. Mục đích của hoạt động này là cung cấp một chương trình tập huấn tiếp diễn thường xuyên cho cán bộ khuyến nông và sau đó giúp họ có cơ hội thể nghiệm những kỹ năng đã học vào thực địa cùng với nông hộ.

          RUDEP đồng thời đã xây dựng chương trình tập huấn thú y để trang bị kỹ năng cho cán bộ thú y cấp tỉnh và cấp huyện để giúp số cán bộ này trở thành lực lượng giảng viên nguồn tập huấn cho đội ngũ thú y viên cơ sở tại các xã RUDEP.

Tiếp cận thị trường

         Khi nông hộ tiếp thu được nhiều kỹ năng mới trong kỹ thuật nông nghiệp, họ nhận ra rằng trở lực lớn kế tiếp đối với việc tăng thu nhập là các hoạt động thị trường. RUDEP xây dựng một đội ngũ trên phạm vi cấp tỉnh về các kỹ thuật tiến hành điều tra nhanh thị trường (RMA) và xác định ra những mặt hạn chế cũng như các cơ hội để cải thiện sự tiếp cận thị trường cho các loại hàng hoá do nông hộ sản xuất. Đội ngũ năng lực này bao gồm một nhóm các cán bộ chuyên trách tại các cơ quan, đại diện một số doanh nghiệp tư nhân và đại diện nông hộ tham gia.  

          Nhóm đã tiến hành điều tra trên sáu mặt hàng và đã khởi đầu một số hoạt động giúp nông hộ cải thiện khả năng tiếp cận thị trường.

Cơ sở hạ tầng

          RUDEP phân bổ kinh phí cho từng xã thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ. Kinh phí cơ sở hạ tầng chiếm tỉ trọng 21% trong ngân sách của RUDEP, và hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, trợ giúp kỹ thuật và hỗ trợ các hoạt động cơ sở hạ tầng. Các công trình cơ sở hạ tầng được xác định từ quá trình lập kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng tại các xã ở đó người dân xác định ra những công trình cần thực hiện. Công trình do người dân lựa chọn chủ yếu là đường giao thông nội vùng, cấp nước, hệ thống thuỷ lợi nhỏ, trường mẫu giáo, mạng lưới điện và cầu treo nông thôn.  

          RUDEP sử dụng quy trình cơ bản theo quy định của Chính phủ áp dụng đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, kết hợp với sự tham gia của các đối tượng hưởng lợi vào quá trình thiết kế, chọn thầu, giám sát, vận hành và duy tu, bảo dưỡng cùng với sự lưu ý đối với các tác động về mặt môi trường. 

Tăng cường năng lực

          Bên cạnh việc cung cấp tập huấn kỹ thuật cho nông hộ thực hiện bởi lực lượng cán bộ khuyến nông, RUDEP tiến hành chương trình tập huấn, bồi dưỡng cán bộ UBND các xã sử dụng hệ thống các biểu đồ năng lực để xác định những yêu cầu năng lực then chốt đối với công việc của UBND xã. Dựa trên hệ thống các biểu đồ năng lực là bước phân tích nhu cầu cần được đào tạo, tập huấn để xác định đối tượng nào cần được tập huấn về chủ đề gì, kết hợp với sự đánh giá thực tế năng lực bằng hình thức kiểm tra đầu khoá, cuối khoá và kiểm tra nhắc lại các kiến thức đã được cung cấp cho người học; và sau đó là đánh giá việc áp dụng các kiến thức đã học vào công việc thực tế tại cơ sở.

          Ban đầu chương trình đào tạo, tập huấn này được hợp đồng thực hiện với lực lượng giảng viên ngoài tỉnh được mời từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Cần Thơ, v.v. và các chủ đề tập huấn được tập trung vào năm lĩnh vực chính là: lập kế hoạch và triển khai thực hiện; kỹ năng thúc đẩy và truyền thông giao tiếp; giải quyết vấn đề; lập và quản lý ngân sách; theo dõi và đánh giá. Các khoá tập huấn được tổ chức theo thời gian ngắn ngày (3 ngày) để giúp người tham gia học có thể sắp xếp tham dự mà không làm gián đoạn quá nhiều đến công việc tại cơ quan.

          Năm 2006, RUDEP bắt đầu hợp tác với Trường Chính trị tỉnh để cùng xây dựng một chương trình huấn luyện TOT cho đội ngũ giảng viên cấp tỉnh và cấp huyện, cùng với việc xây dựng một chương trình nội dung tập huấn cho cán bộ cấp xã dựa trên sáu mục chủ đề: kỹ năng lãnh đạo ở cấp xã; kỹ năng lãnh đạo ở cấp thôn; hành chính; tài chính; quản lý đất đai; và các vấn đề về pháp lý. Chương trình được xây dựng vào năm 2006 và triển khai thí điểm tại các xã RUDEP vào thời gian đầu của năm 2007, sau đó được đưa vào áp dụng để tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ thuộc 43 xã Chương trình 135/2 tại 6 huyện miền núi.

Giao đất lâm nghiệp

          RUDEP phối hợp với Sở Tài nguyên-Môi trường xây dựng Quy trình hướng dẫn về thực hiện giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân. Quy trình đã được UBND tỉnh phê duyệt đưa vào thực hiện trên toàn tỉnh. RUDEP hỗ trợ thực hiện thực hiện quy trình tại 15 xã Chương trình, với kết quả dự kiến là đến cuối năm 2007 khoảng 20.000 ha đất rừng (cả đất chưa sử dụng) sẽ được giao cho khoảng 6.000 hộ dân. RUDEP hiện cũng đang hỗ trợ cho việc triển khai các bước liên quan đến sự tham gia của cộng đồng trong phần đầu của quy trình thực hiện tại 51 xã trong năm 2008. Ở các xã này, Chính quyền tỉnh bố trí ngân sách cho công tác đo đạc và giao đất cho người dân.

          Quy trình giao đất do RUDEP giới thiệu khác với quy trình được tỉnh sử dụng trong công tác giao đất giao rừng từ trước đến nay ở chỗ sự tham gia của người dân ngay từ giai đoạn đầu của quy trình giúp sớm giải quyết các vấn đề hoặc tranh chất phát sinh và tạo tiền đề cho sự giao và phân bổ đất đai mà mọi người đều hiểu rõ và đồng thuận. Việc này đưa đến kết quả ít tranh chấp hơn ở công đoạn sau này và đảm bảo tính minh bạch trong quá trình giao đất. Quyền sở hữu sử dụng đất của người dân được đảm bảo là yếu tố then chốt để thiết lập một chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững tại các địa bàn miền núi mang lại lợi ích thiết thực đối với người nghèo. RUDEP đồng thời hỗ trợ việc triển khai các vườn ươm tại 15 xã để giúp nông hộ tạo nguồn cây con tại chỗ và có khả năng tự mình nhân giống sử dụng cho những năm sau.

Truyền thông nông thôn

           RUDEP liên kết với USAID, Intel và WRI (tổ chức phi chính phủ ở Mỹ) thử nghiệm và quảng bá mạng viễn thông không dây tại các xã nông thôn Quảng Ngãi. Hệ thống hiện lắp đặt tại các xã để thí điểm một phương án rẽ tiền thay thế cho mạng cáp quang và tháp điện thoại di động, kết hợp cung cấp truy cập internet bên cạnh dịch vụ điện thoại không dây.

          Ngoài mục đích thử nghiệm công nghệ liên lạc không dây, RUDEP quan tâm xem xét những hiệu quả từ sự cải thiện điều kiện thông tin liên lạc đối với công tác giảm nghèo và cùng với người dân tại các xã thí điểm xây dựng những phương án tận dụng hiệu quả hệ thống thông tin liên lạc phục vụ các mục đích như thông tin thị trường, thông tin và hỗ trợ y tế, thông tin và hỗ trợ nông nghiệp, v.v.

          

 
 

2. Thành quả

  • Quy trình lập kế hoạch kinh tế xã hội: đã được chính quyền tỉnh tiếp thu và hiện đang sử dụng làm hệ thống lập kế hoạch chuẩn trên toàn 186 xã, phường, thị trấn của tỉnh.

  • Tiết kiệm và tín dụng: trên 4000 hộ thành viên thuộc 166 quỹ vận hành một hệ thống tiết kiệm và tín dụng với tỉ lệ nợ khó đòi 2,5% và tiền gởi tiết kiệm tại các quỹ đạt 1,2 tỉ đồng. Các điều tra cho thấy đã có những gia tăng đáng kể về thu nhập và sở hữu tài sản hộ gia đình.

  • Kinh phí phát triển xã: được quản lý thành công tại 23 xã Chương trình với tổng vốn 29 tỉ đồng thực hiện các hoạt động kinh tế, xã hội và cơ sở hạ tầng qua thời gian 2 năm.

  • Giao đất lâm nghiệp có sự tham gia: bản quy trình được chính quyền tỉnh tiếp nhận đưa vào áp dụng và tính đến tháng 12/2007, trên địa bàn 15 xã đầu tiên đã có 10.000 ha đất lâm nghiệp được giao cho người dân.

  • Năng lực cán bộ UBND các xã: RUDEP đã xây dựng năng lực cho cán bộ UBND các xã và đội ngũ trưởng thôn tại 23 xã Chương trình và hiện nay đang hợp tác với Trường Chính trị để tiếp tục các hỗ trợ này cho các xã Chương trình 135/2 thuộc Quảng Ngãi.

  • Giới: RUDEP đặt điều kiện bắt buộc rằng toàn bộ các nhóm hoạt động (nhóm sở thích) tham gia thực hiện các hoạt động do chương trình tài trợ phải có ít nhất 50% số thành viên là phụ nữ. Con số này trên thực tế đã tăng lên 75% mà không cần có sự can thiệp thêm từ Chương trình. Các điều tra phân tích về giới đã được thực hiện để xác định vai trò của nam giới và phụ nữ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp hộ gia đình, và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các lần tập huấn, thực nghiệm đặc biệt đối với những hoạt động sản xuất mà họ có xu hướng chịu trách nhiệm chính (ví dụ, chăn nuôi heo). Vấn đề Giới được đặt trọng tâm do tầm quan trọng của vai trò người phụ nữ trong sự tham gia của cộng đồng cũng như trong công cuộc xoá đói giảm nghèo.

  • Nông hộ được trao quyền:  RUDEP hướng đến trao quyền nam giới và phụ nữ  tại các xã nông thôn bằng cách trang bị cho họ các kỹ năng và sự tự tin để vận động trong nền kinh tế thị trường. Người dân khi được trao quyền sẽ có sự tự tin trong yêu cầu thông tin và biết cần lấy thông tin đó từ đâu. Họ sẽ không còn lệ thuộc vào dịch vụ chất lượng thấp sẵn có hoặc không có tại xã. Đã có những thay đổi đáng kể tại cả xã đồng bằng và miền núi mặt dù với người dân miền núi thì đang khởi đầu ở mức độ rất thấp và vẫn còn cần nhiều thời gian hơn nữa để được xem là đã được trao quyền.